CÔNG BỐ HỌC


CÔNG BỐ TÀI LIỆU VĂN KIỆN

 

GV: Thầy Nguyễn Văn Hàm

Đơn vị học trình: 02

 

Phần 1:

DẪN LUẬN

 

Chương I: Những vấn đề chung về môn học Công bố tài liệu văn kiện

I. Định nghĩa môn học Công bố tài liệu văn kiện và ý nghĩa của nó:

1. ĐN: Về môn học Công bố tài liệu văn kiện cho đến nay vẫn còn những quan niệm khác nhau, có thể khái quát trên 4 quan niệm sau:

- Người ta cho rằng, Công bố tài liệu văn kiện là một môn khoa học nhằm nghiên cứu và định ra những vấn đề lý luận, phương pháp và thực tiễn của việc công bố những tài liệu văn kiện khác nhau.

- Công bố tài liệu văn kiện là một lĩnh vực khoa học, bao gồm công tác nghiên cứu các quy tắc khoa học của việc công bố tài liệu và công tác thực tiễn trong lĩnh vực ấy.

- Người ta cho rằng, công bố tài liệu văn kiện là một môn khoa học nhằm nghiên cứu các tài liệu chữ viết liên quan tới nhiệm vụ tập trung mô tả và xuất bản đối với chúng.

- Cũng có người cho rằng, Công bố tài liệu văn kiện là toàn bộ những công tác về tập trung, mô tả và xuất bản các tài liệu văn tự cổ.

Tuy nhiên, theo 4 quan niệm trên còn có những hạn chế, chưa phản ánh một cách đầy đủ và chính xác bản chất của Công bố tài liệu văn kiện, bởi vì theo Thuật ngữ Công bố tài liệu văn kiện thì những quan niệm nói trên đều thống nhất ở chỗ nghiên cứu những vấn đề liên quan đến lý luận và phương pháp công bố, nhưng đối tượng tài liệu để công bố thì có những định nghĩa nêu ra chưa được đầy đủ

Trên cơ sở các quan niệm trên, có thể rút ra định nghĩa Công bố tài liệu văn kiện như sau:

“Môn học Công bố tài liệu văn kiện là một mon khoa học bổ trợ của khoa học lịch sử, có nhiệm vụ nghiên cứu và định ra các nguyên tắc, phương pháp công bố tài liệu trên cơ sở khái quát các hoạt động thực tiễn của công việc công bố tài liệu”.

ĐN này tương đối đầy đủ và toàn diện hơn so với 4 định nghĩa nêu trên. Nó tuy chưa hoàn chỉnh, nhưng tạm thời có thể chấp nhận được.

2. Ý nghĩa:

- Việc đưa ra một định nghĩa tương đối hoàn chỉnh về công bố tài liệu văn kiện sẽ giúp xác định đối tượng nghiên cứu của môn học, cũng như đề ra những nguyên tắc, phương pháp công bố tài liệu văn kiện phù hợp với hoạt động thực tiễn của công tác này.

- Trên cơ sở định nghĩa tương đối hoàn chỉnh này, người ta có cơ sở để xây dựng các chương, mục của môn học phù hợp với bản chất của môn học này.

II. Đối tượng nghiên cứu của môn học (4 đối tượng):

1. Tài liệu lưu trữ: Tài liệu lưu trữ là một trong những đối tượng quan trọng nhất của hoạt động công bố tài liệu văn kiện, bởi vì TLLT được bảo quản trong các hệ thống lưu trữ khác nhau từ Trung ương đến địa phương, do đó mới có điều kiện để sưu tầm, lựa chọn những tài liệu cần thiết phục vụ cho các đề tài công bố.

2. Nghiên cứu tổng kết xây dựng lý luận và phương pháp công bố: Việc công bố TLVK trước hết phải đảm bảo độ chính xác cao. Muốn vậy, cần phải được tiến hành theo những nguyên tắc, phương pháp công bố tài liệu được nghiên cứu tỏng kết và xây dựng nên qua thời gian lịch sử phát triển của hoạt động cong bố. Để làm được điều này, những kinh nghiệm của quá khứ, những lời chỉ dẫn của các nhà kinh điển có ý nghĩa hết sức quan trọng.

3. Quá trình lịch sử phát triển của công bố tài liệu văn kiện: Đây cũng là một đối tượng mà môn học này phải đề cập. Vì trong quá trình phát triển lịch sử của môn công bố tài liệu văn kiện có rất nhiều kinh nghiệm đã được tích luỹ. Từ những kinh nghiệm lịch sử đó, người ta nghiên cứu khái quát, đúc kết thành những nguyên tắc và phương pháp để công bố tài liệu.

4. Luật pháp của nhà nước về công bố tài liệu văn kiện:

- TLLT được xác định là tài sản chung của quốc gia, vì vậy khi công bố những tài liệu này cần phải tuân theo những quy định của pháp luật, trong đó phải làm rõ trách nhiệm của các cơ quan trong việc công bố tài liệu văn kiện, thẩm quyền công bố tài liệu văn kiện.

- Trong luật pháp nó quy định rõ trách nhiệm đối với nguồn tài liệu được công bố là nó chính xác, trung thực với bản chính, bản gốc, cấm xuyên tạc các tài liệu, tạo ra các tài liệu giả (nguỵ tạo).

III. Nhiệm vụ của công bố tài liệu văn kiện:

1. Công bố TLVK với nhiệm vụ làm sáng tỏ các sự kiện, hiện tượng lịch sử (về lịch sử):

Chúng ta đều biết, TLLT là một sản phẩm của lịch sử, thể hiện ở hai phương diện chính sau đây:

- Về mặt nội dung: Tài liệu của giai đoạn lịch sử nào tì phản ánh tất cả những sự kiện, hiện tượng hay nhân vật lịch sử của giai đoạn đó.

- Về mặt hình thức: Nó được thể hiện trên các vật liệu, kỹ thuật làm ra tài liệu đó, do đó nó có sự khác biệt với nhau qua các thời kỳ.

Qua những tài liệu này, có thể làm sáng tỏ các sự kiện, hiện tượng, các nhân vật lịch sử hoặc có thể đính chính các sai sót về các sự kiện, hiện tượng lịch sử.

2. Công bố tài liệu phục vụ việc bảo vệ chủ quyền, an ninh quốc gia: Trong TLLT, đặc biệt là những tài liệu liên quan đến quan hệ bang giao giữa các quốc gia, đó là những chứng cứ chân thực, phản ánh quan hệ giữa các quốc gia với nhau (VD: các Hiệp định, Hiệp ước ký kết giữa các nước, các bản đồ về biên giới quốc gia… những tài liệu này là những chứng cứ quan trọng khẳng định chủ quyền của mỗi quốc gia).

3. Công bố tài liệu nhằm góp phần vào việc tuyên truyền, giáo dục truyền thống: Bởi vì, đối với nước ta, hàng năm có rất nhiều sự kiện lịch sử, nhân những ngày này, có thể công bố những tài liệu liên quan, để từ đó giáo dục truyền thống cho các thế hệ.

4. Công bố tài liệu nhằm gắn hoạt động của lưu trữ đối với đời sống xã hội. Bởi vì, các kho lưu trữ bảo quản một khối lượng lớn tài liệu, do đó việc lựa chọn để công bố những tài liệu đó để cho xã hội hiểu được tiềm năng về mặt thông tin quá khứ có trong ác tài liệu lưu trữ, qua đó giúp cho xã hội hiểu hơn công tác lưu trữ.

5. Ngoài ra, việc công bố những tài liệu văn kiện còn nhằm cung cấp những chứng tích liên quan đến các dấu ấn của các nhân vật (VD:…)

IV. Những quan điểm về công bố tài liệu văn kiện:

1. Quan điểm lịch sử trong công bố tài liệu văn kiện:

TLLT là một trong những di sản lịch sử được thể hiện ở 2 phương diện:

+ Về mặt nội dung: TLLT phản ánh các sự kiện, các hiện tượng, các nhân vật lịch sử.

+ Về mặt hình thức: Tài liệu của thời kỳ lịch sử nào cũng thể hiện trên vật liệu, kỹ thuật làm ra nó.

Chính vì vậy, khi công bố tài liệu lịch sử đó, chúng ta phải đặt nó trong bối cảnh lịch sử đã hình thành ra nó để lựa chọn những tài liệu có giá trị nhất để công bố.

-> Quan điểm lịch sử giúp cho người làm công tác công bố nghiên cứu tiếp thu những kinh nghiệm hoạt động công bố của quá khứ để xây dựng nên những nguyên tắc, phương pháp công bố tài liệu, làm cho bất kỳ tài liệu nào khi được công bố rộng rãi đều đảm bảo được tính chân thực, độ tin cậy cao của tài liệu đó đối với người đọc.

2. Quan điểm chính trị:

- Bất kỳ một tài liệu nào được hình thành nên đều nhằm phục vụ cho lợi ích của giai cấp nắm quyền. Do đó, khi xem xét, lựa chọn để công bố đều phải đứng trên lợi ích của quốc gia, dân tộc, tránh mọi sự xuyên tạc, bóp méo các sự kiện, hiện tượng.

- Người làm công tác công bố tài liệu văn kiện phải có thái độ, có trách nhiệm đầy đủ về những tài liệu mà mình công bố, tuyệt đối tránh tình trạng vì lợi ích cá nhân mà công bố những tài liệu sai sự thật, gây nên sự hiểu lầm về các sự kiện, hiện tượng, các nhân vật lịch sử.

- Phải mở rộng đấu tranh phê bình và tự phê bình để nâng cao chất lượng tài liệu công bố (có thể công bố nhiều lần trên cơ sở những lần sau có bổ sung, xác minh thêm do người đọc phê bình, góp ý).

- Khi công bố bất kỳ tài liệu nào đều phải xuất phát từ yêu cầu chung của xã hội và phải biết kết hợp chặt chẽ việc phục vụ nhiệm vụ chính trị trước mắt và việc phục vụ công tác giáo dục lâu dài; có hệ thống về tưởng Hồ Chí Minh, về đường lối, chính sách của Đảng cho quần chúng nhân dân…

V. Mối quan hệ giữa công bố với các môn khoa học khác:

1. Mối quan hệ với Khoa học Lịch sử: Như chúng ta đã biết, TLLT là một sản phẩm lịch sử, đồng thời là nguồn sử liệu, do đó những kiến thức của khoa học lịch sử giúp cho những người làm công tác công bố có thể phân tích, đánh giá, lựa chọn một cách chính xác những tài liệu hình thành nên ở các thời kỳ lịch sử khác nhau để công bố.

2. Mối quan hệ giữa công bố với lý luận và thực tiễn công tác lưu trữ: Đối tượng của lý luận và thực tiễn công tác lưu trữ và đối tượng của công bố đều là TLLT. Do đó, những nguyên tắc, phương pháp về mặt nghiệp vụ đối với TLLT cũng có thể vận dụng trong việc công bố các tài liệu (VD: Như xác định giá trị tài liệu, hệ thống hoá tài liệu… của lý luận lưu trữ cũng có thể áp dụng trong công bố).

3. Mối quan hệ giữa công bố với sử liệu học: Những đánh giá của sử liệu học là sự xác minh đưa ra kết luận chính xác để công bố được chính xác.

4. Ngoài ra, công bố tài liệu văn kiện còn có quan hệ mật thiết với nhiều môn khoa học khác như Ngôn ngữ học, Đo lường học, ấn tín học…

 

Phần 2

NGUYÊN TẮC VÀ PHƯƠNG PHÁP CÔNG BỐ TÀI LIỆU

 

Chương II: Chọn đề tài, công tác chuẩn bị công bố

I. Đề tài và ý nghĩa của đề tài trong công bố:

1. Đề tài:

- KN: Đề tài là đối tượng cơ bản để trình bày các tài liệu trong công bố. Như vậy, trước khi thực hiện các nhiệm vụ công bố tài liệu thì việc lựa chọn đề tài là công việc có tinh chất bắt buộc, vì đề tài của công bố chính là để thể hiện mục đích của chủ đề công bố.

- Việc lựa chọn đề tài có ý nghĩa sau:

+ Lựa chọn một đề tài công bố đúng sẽ có tác dụng rất lớn trong việc đưa ra những thông tin có giá trị phục vụ cho các đối tượng khác nhau.

+ Việc chọn đề tài không phải chỉ có ý nghĩa đối với người làm công tác công bố, mà nó còn có ý nghĩa rất lớn đối với đông đảo người đọc, mặc dù yêu cầu của người đọc có thể rất khác nhau.

2. Yêu cầu của lựa chọn đề tài:

- Khi lựa chọn đề tài công bố phải kết hợp chặt chẽ với đời sống hiện thực của đất nước.

- Khi lựa chọn đề tài phải chú ý đến tính chất mới mẻ, nghĩa là những tài liệu được công bố trong đề tài hoặc là chưa ai biết, hoặc là đã biết nhưng chưa đầy đủ, chưa toàn diện.

- Dề tài lựa chọn phải chính xác, cụ thể, phạm vi năm, tháng phải rõ ràng.

- Khi lựa chọn đề tài, người làm công tác công bố phải có sự am hiểu nhất định về những tài liệu có thể phục vụ cho đề tài đó.

-> Sau khi lựa cọn những tài liệu theo yêu cầu nói trên thì cần phải đặt tên cho xuất bản phẩm đó.

II. Phân loại các xuất bản phẩm:

Việc phân loại xuất bản phẩm, trước hết là căn cứ vào mục đích, nhiệm vụ và thành phần của các tài liệu công bố thành các kiểu, các loại và các hình thức khác nhau. Việc phân loại như vậy còn căn cứ vào yêu cầu sử dụng cũng như khả năng, trình độ của người đọc không giống nhau.

1. Các kiểu xuất bản phẩm văn kiện: Hiện nay người ta chia thành 3 kiểu xuất bản phẩm văn kiện:

- Kiểu xuất bản phẩm khoa học: Là kiểu xuất bản phẩm trong đó đưa vào tất cả những tài liệu liên quan đến chủ đề công bố kèm theo những công cụ tra cứu đầy đủ nhất. Đối tượng phục vụ chủ yếu là những người nghiên cứu (VD: các tuyển tập như Lê-nin toàn tập, Hồ Chí Minh toàn tập…).

- Kiểu xuất bản phẩm khoa học phổ thông: Là kiểu xuất bản phẩm được đưa vào những tài liệu liên quan trực tiếp đến chủ đề công bố, kèm theo một số công cụ tra cứu cần thiết. Đối tượng phục vụ là rộng rãi với người đọc (VD: … bằng các loại sách giới thiệu, trên các tạp chí…).

- Kiểu xuất bản phẩm giáo khoa: Là kiểu xuất bản phẩm trong đó đưa vào những tài liệu nhằm làm sáng tỏ những nội dung liên quan đến chương trình học tập nhất định và kèm theo một số công cụ tra cứu cần thiết. Đối tượng phục vụ là người học (VD: Việt Nam những sự kiện 1945-1975).

->Ba kiểu xuất bản phẩm nói trên đều có điểm giống nhau là tài liệu được công bố phải chính xác, các công cụ tra cứu phải được biên soạn rõ ràng, chính xác.

2. Các loại xuất bản phẩm, bao gồm:

- Loại xuất bản theo phông: trong đó những tài liệu văn kiện được công bố chỉ bao gồm tài liệu của một phông.

- Loại xuất bản phẩm theo chuyên đề: là loại xuất bản trong đó chỉ đưa vào những tài liệu liêu quan đến từng chuyên đề cụ thể (VD: Hồ Chí Minh với công tác thanh tra, Hồ Chí Minh với giáo dục…).

- Loại xuất bản phẩm theo từng thể loại văn kiện: loại này người ta chỉ đưa vào những tài liệu có cùng tên gọi (VD: tập biên bản hay tập Nghị định, quyết định…).

- Loại xuất bản phẩm cá nhân: là loại xuất bản phẩm công bố tài liệu liên quan đến từng cá nhân cụ thể.

3. Hình thức xuất bản phẩm văn kiện bao gồm:

- Xuất bản phẩm từng phần (tập 1, tập 2…).

- Xuất bản phẩm theo tuyển tập, toàn tập

- Xuất bản phẩm trên các tạp chí, báo chí (loại phổ biến nhất).

- Xuất bản phẩm dưới dạng các tập Anbum (ảnh).

- Xuất bản phẩm dưới dạng các phụ lục, phụ trương…

-> Nói chung, trong thực tiễn, người ta thường kết hợp các kiểu, các loại, các hình thức khác nhau (VD: Văn kiện Đảng toàn tập – là kết hợp kiểu khoa học, loại thì theo phông, hình thức là toàn tập).

III. Công tác chuẩn bị công bố:

1. Lập bản kê tài liệu tham khảo có liên quan đến công bố như sách báo, tạp chí, văn bản…

TLTK là cơ sở để chuẩn bị cho việc công bố các tài liệu liên quan đến những chủ đề nhất định. TLTK bao gồm 2 loại chính sau:

- TLLT liên quan trực tiếp đến chủ đề (đề tài) công bố. Khi lập bản kê những tài liệu này cần chỉ rõ các thông tin chính sau đây:

+ Nơi bảo quản tài liệu (trung tâm, phòng, kho lưu trữ…).

+ Tên phông (hoặc số phông)

+ Mục lục hồ sơ

+ Số hồ sơ/ĐVBQ

+ Tờ số

- Các sách báo, tạp chí liên quan đến chủ đề cần chỉ rõ các thông tin sau:

+ Tên tác giả hoặc cơ quan xuất bản

+ Tên xuất bản phẩm

+ Chỉ rõ các chi tiết về hình thức xuất bản phẩm (VD: xuất bản lần mấy, tập mấy, hay tái bản lần mấy, có bổ sung sửa chữa gì không…).

+ Chỉ rõ nhà xuất bản, nơi xuất bản, năm xuất bản.

-> Tất cả các yếu tố thông tin nói trên, giúp cho công tác công bố được thuận lợi, nhanh chóng, chính xác.

2. Nghiên cứu các tài liệu tham khảo:

- Khi nghiên cứu các TLTK, thông thường người ta nghiên cứu các tài liệu có tính tổng quát trước, sau đó mới đi vào nghiên cứu các tài liệu cụ thể.

- Khi nghiên cứu các tài liệu, cần ghi chép lại những thông tin liên quan trực tiếp đến đề tài (chủ đề) để sau này khi biên tập xuất bản phẩm đó ta có các thông tin cần thiết.

3. Dự kiến đề cương và xác định nhiệm vụ của xuất bản phẩm:

- Đề cương của một xuất bản phẩm thể hiện những nội dung cơ bản của xuất bản phẩm đó, do đó cần phải nghiên cứu tìm hiểu kỹ càng những TLTK để xác định chính xác đề cương của xuất bản phẩm.

- Đề cương của xuất bản phẩm có thể bố trí theo nguyên tắc đi từ những vấn đề tổng hợp đến những vấn đề cụ thể (theo kết cấu chương, mục…). Hoặc là có thể bố trí từ các chi tiết để đi đến tổng quát (cũng theo chương, mục…) tuỳ vào tình hình cụ thể. Sau khi dự kiến đề cương xuất bản phẩm, cần xác định rõ nhiệm vụ của xuất bản phẩm đó (phục vụ cho nghiên cứu là chủ yếu hay có tính chất tuyên truyền, hay có tính chất phổ thông, hoặc có tính chất thông tin cụ thể về một hiện tượng, sự kiện…).

 

Chương III: Sưu tầm và lựa chọn tài liệu văn kiện để công bố

I. Khái niệm và mục đích:

1. KN:

- Sưu tầm và lựa chọn tài liệu để công bố là giai đoạn trực tiếp tiếp cận với tài liệu (thông thường là đọc). Giai đoạn này bao gồm 2 công việc là sưu tầm và lựa chọn.

- KN: Sưu tầm và lựa chọn tài liệu để công bố là công việc tìm kiếm những tài liệu liên quan đến chủ đề công bố và lựa chọn trong số đó những tài liệu có giá trị nhất để đưa vào xuất bản phẩm văn kiện.

Đây là hai công việc khác nhau, nhưng có mối quan hệ mật thiết với nhau. Sưu tầm tức là tìm kiếm tất cả những tài liệu liên quan đến chủ đề công bố, còn lựa chọn chính là xác định giá trị về mặt khoa học, lịch sử, thực tiễn của những tài liệu đã sưu tầm được để đưa vào xuất bản phẩm.

2. ý nghĩa:

- Sưu tầm và lựa chọn tài liệu để công bố có ý nghĩa quyết định đến chất lượng của các tài liệu được công bố trong xuất bản phẩm, bởi vì càng sưu tầm được nhiều tài liệu liên quan đến chủ đề thì càng có điều kiện lựa chọn một cách  chặt chẽ hơn những tài liệu đã sưu tầm được.

- Việc sưu tầm và lựa chọn tài liệu càng được tiến hành một cách chặt chẽ thì sẽ có tác dụng tích cực trở lại đối với các cơ quan lưu trữ, nghĩa là do sưu tầm và lựa chọn tài liệu sẽ buộc các trung tâm, các phòng, kho lưu trữ phải tổ chức sưu tầm, bổ sung tài liệu một cách kịp thời hơn (nhất là những tài liệu thuộc các phông trước cách mạng tháng 8).

II. Nguyên tắc sưu tầm và lựa chọn tài liệu văn kiện:

1. Khi sưu tầm và lựa chọn tài liệu để công bố, trước hết phải chú ý tới phương pháp nghiên cứu toàn diện những tài liệu liên quan đến chủ đề công bố.

2. Lựa chọn những tài liệu để công bố phải dựa trên cơ sở đánh giá giá trị của những tài liệu đó dựa trên những nguyên tắc, phương pháp và tiêu chuẩn xác định giá trị tài liệu của lý luận và thực tiễn công tác lưu trữ. về điều này, đòi hỏi những người làm công tác công bố phải có trách nhiệm giải thích rõ tính chân thực được phản ánh trong các tài liệu công bố, đồng thời phải chú ý tới nội dung của tài liệu cũng như xuất xứ của những tài liệu đó. Kết hợp xem xét từng tài liệu trong mối quan hệ của nó với những tài liệu khác, tuyệt đối tránh tách rời bối cảnh lịch sử ra đời của tài liệu đó (nhất là giai đoạn công tác lưu trữ của ta chưa phát triển, điển hình như những năm kháng chiến chống Pháp).

3. Sưu tầm, lựa chọn những tài liệu đã công bố: Trong thực tế, có một số tài liệu đã được công bố lẻ tẻ (rời lẻ) trên các sách, báo, tạp chí, nhưng vẫn có thể sưu tầm, lựa chọn những tài liệu đó để đưa vào xuất bản phẩm công bố khi những tài liệu này có thể làm phong phú, đầy đủ thêm cho xuất bản phẩm.

4. Công bố những tài liệu chứa đựng những con số: Đối với những con số có trong các tài liệu, người ta có thể thể hiện những con số đó bằng các sơ đồ hay biểu mẫu (để dễ nhớ, dễ hiểu), nhưng cần phải chú thích rõ xuất xứ của những con số đó (phông nào, hồ sơ nào…).

=> Sưu tầm và lựa chọn tài liệu là 2 công việc trong công bố tài liệu văn kiện, có nhiệm vụ khác nhau, nhưng có mối liên hệ hết sức mật thiết với nhau (có sưu tầm mới có lựa chọn). Do đó, phải làm đầy đủ cả sưu tầm và lựa chọn tài liệu thì xuất bản phẩm khi công bố sẽ càng có giá trị.

 

Chương IV: Truyền đạt bản văn của văn kiện

I. Khái niệm, mục đích, ý nghĩa:

1. KN:

- Sau khi đã sưu tầm và lựa chọn tài liệu phục vụ chủ đề công bố thì công việc tiếp theo là truyền đạt bản văn của văn kiện một cách chính xác để những tài liệu được công bố đảm bảo độ chính xác cao, tạo lòng tin đối với người đọc, người sử dụng (nếu để độc giả nghi ngờ thì việc công bố coi như thất bại).

- KN: Truyền đạt bản văn của văn kiện chính là sự tái hiện một cách khoa học những tài liệu được công bố về cả nội dung và hình thức của văn bản. Tuy nhiên, cần chú ý truyền đạt bản văn của văn kiện một cách chính xác không có nghĩa là sao chép một cách nguyên xi những sai sót về mặt ngữ pháp (dấu chấm câu, dấu phẩy, câu cú, từ vựng…).

2. Mục đích, ý nghĩa:

- Truyền đạt bản văn của văn kiện chính xác tạo nên lòng tin đối với người đọc, người sử dụng các tài liệu công bố.

- Truyền đạt bản văn của văn kiện chính xác nó thể hiện tính khoa học trong việc công bố các tài liệu văn kiện.

- Việc truyền đạt chính xác các tài liệu văn kiện nó đảm bảo cho việc loại trừ tính tuỳ tiện, tính cẩu thả trong việc công bố các tài liệu văn kiện.

=> Tất cả mọi văn bản khi công bố đều nhằm mục đích là tạo độ tin cậy cao và tạo sự yên tâm cho người sử dụng.

II. Phương pháp truyền đạt bản văn của văn kiện:

Để truyền đạt chính xác bản văn của văn kiện trong công bố tài liệu, người ta phải thực hiện theo một số phương pháp cơ bản sau:

1. Truyền đạt bản văn của văn kiện viết liền mạch: Trong thực tế, có một số văn bản hình thành cách xa chúng ta ngày nay do trình độ hạn chế về mặt ngôn ngữ, cho nên văn bản được hình thành nên thiếu mạch lạc; việc sử dụng các dấu câu tuỳ tiện hoặc thiếu chính xác. Gặp những trường hợp này, trước khi truyền đạt bản văn của văn kiện, người làm công tác công bố phải nghiên cứu đánh dấu các câu theo đúng quy tắc ngữ pháp. Công việc này không phức tạp lắm, nhưng đòi hỏi phải hết sức thận trọng để tránh những sai sót có thể xay ra.

2. Phương pháp truyền đạt các chữ viết tắt:

Trong nhiều tài liệu, có những cữ viết tắt không thông dụng. Trách nhiệm của người làm công tác công bố là phải xác minh các chữ viết tắt đó trước khi truyền đạt bản văn của văn kiện. Có các phương pháp sau:

+ Đoán định chữ viết tắt đó theo lô-gich lời văn

+ Có thể so sánh với những văn bản đồng thời với tài liệu chuẩn bị công bố

+ Đoán định chữ viết tắt đó theo suy nghĩ chủ quan

Để nhận biết phần chính văn của văn kiện với phần khám phá của người làm công tác công bố, người ta dùng dấu móc vuông []. VD: gặp cụm chữ viết tắt là XVĐ thì người ta viết: X[ích] V[ệ] Đ[ỏ] (xích vệ đỏ). Sở dĩ phải làm như vậy là vì những phần khám phá có thể đúng hoặc có thể sai, để người đọc cần lưu ý khi tiếp cận nó.

Tuy nhiên, trong thực tế, công bố tài liệu văn kiện cũng có trường hợp không khám phá được những chữ viết tắt đó. Trường hợp này cần chú thích rõ ở cuối trang.

3. Phương pháp truyền đạt những chữ, những câu, những đoạn bị mất trong nguyên bản:

Trong thực tế thường gặp ở nhiều tài liệu cũ ta còn lưu trữ được. Gặp những trường hợp này, thì trách nhiệm của người làm công tác công bố phải nghiên cứu xác minh để tìm ra những chữ, câu, đoạn bị mất trong nguyên bản. Để thực hiện điều này, người ta cũng có thể áp dụng các phương pháp sau:

- Suy đón theo lô-gich lời văn

- So sánh với tài liệu sách báo đồng thời với tài liệu đó

- Đoán định theo ý chủ quan

Tất cả các phần xác minh theo 3 cách trên cũng được đặt trong dấu móc vuông []. Nhưng trong nhiều trường hợp không thể xác minh được thì trong dấu móc vuông người ta đặt dấu 3 chấm […] để thông báo cho người đọc biết là bị mất một đoạn ở đây và cũng đều phải chú thích rõ ở cuối trang.

4. Truyền đạt những chứ khó hoặc những từ tác giả muốn ám chỉ hoặc nói khinh miệt đối với một cá nhân nào đó:

VD: Trong vở kịch “Con rồng tre” mà Bác Hồ viết ở Pháp thì cụm từ “Con rồng tre” không đơn thuần là theo nghĩa đen của nó nữa, mà nó chính là cách gọi của Bác để khinh miệt vua Khải Định khi ông ta sang thăm Pháp. Hoặc trong kháng chiến chúng ta thường nghe nhắc đến những cụm từ như: “Sự kiện Vịnh Bắc Bộ”, “Tết Mậu Thân”, “Điện Biên Phủ trên không”… Gặp những trường hợp này, trách nhiệm của người làm công tác công bố phải nghiên cứu, giải thích một cách đầy đủ, chính xác và ngắn gọn đối với các từ đó.

5. Truyền đạt những lời ghi chép bên lề văn kiện:

- Trong một số tài liệu văn kiện công bố có thể gặp những lời ghi chép phụ thêm ở bên lề của văn bản đó. Mục đích là phân công giải quyết theo nội dung trong văn bản hoặc có thể nhấn mạnh những điểm cốt lõi của văn kiện. Gặp trường hợp này, người ta truyền đạt chính văn của văn kiện trước, sau đó mới truyền đạt đến những lời ghi chép thêm ở bên lề.

- Để phân biệt giữa chính văn văn lời ghi chép bên lề khi tài liệu văn kiện được công bố, người ta phân biệt bằng một dấu gạch ngang, phía trên là chính văn, phía dưới là phần thêm bên lề.

6. Truyền đạt các dấu hiệu mật, tối mật, tuyệt mật; khẩn, thượng khẩn, hoả tốc:

Đối với các xuất bản phẩm phục vụ cho đông đảo người đọc hoặc phục vụ cho học tập thì khi công bố các tài liệu có những dấu hiệu mật, khẩn nói trên thì không nhất thiết phải tái hiện lại những dấu hiệu đó. Nhưng đối với các xuất bản phẩm khoa học phục vụ cho nghiên cứu là chủ yếu thì có thể tái hiện lại các dấu hiệu đó và thường đặt chúng ở dưới số và ký hiệu văn bản. Sở dĩ phải làm như thế là khi nghiên cứu, các dấu hiệu này là sự gợi ý cho người nghiên cứu có những nhận thức về vấn đề liên quan đến các sự kiện trong nội dung văn bản.

Ngoài ra, trong một số tài liệu được công bố kèm theo những từ cổ hoặc từ nước ngoài thì khi truyền đạt những từ đó để công bố thì phải dịch sang tiếng Việt và mở ngoặc đơn kèm theo từ nước ngoài đó.

Tóm lại: Truyền đạt bản văn của văn kiện trong công tác công bố tài liệu có vị trí đặc biệt quan trọng là làm dễ dàng, thuận lợi cho người đọc khi tiếp cận tài liệu công bố.

 

Chương V: Trình bày và hệ thống hoá các tài liệu công bố

I. Trình bày các tài liệu công bố:

1. Biên soạn tiêu đề:

Tiêu đề của một tài liệu riêng lẻ hay một nhóm tài liệu được biên soạn đầy đủ, khoa học sẽ giúp cho việc nghiên cứu tìm hiểu, sử dụng các tài liệu được nhanh chóng. Thành phần tiêu đề tài liệu công bố gồm có:

- Tên gọi của tài liệu: Thể hiện được những nét riêng biệt của các tài liệu khác nhau và tên gọi cũng nói lên tầm quan trọng của tài liệu, vị trí của tài liệu đó trong hệ thống các tài liệu văn kiện nói chung.

- Thời gian, địa điểm của văn kiện: Là yếu tố không thể thiếu của tài liệu công bố. Thời gian đối với các văn kiện quản lý không phải chỉ có một (VD: thời gian công bố văn kiện Luật thì thời gian ghi trên văn bản khác với thời gian có hiệu lực của văn bản). Do đó, cần xác minh và lựa chọn cho được thời gian chính xác nhất. Trong thực tế có nhiều tài liệu không có thời gian, cho nên khi công bố cần xác minh rõ thời gian cau tài liệu đó. Để xác minh thời gian, người ta cũng có thể so sánh với những tài liệu đồng thời kỳ hoặc có thể xác minh thời gian ngay trong nội dung tài liệu đó (khung thời gian có thể không chính xác tuyệt đối, mà chỉ là tương đối).

Về địa điểm cũng phải xác minh tương tự như thời gian.

- Tác giả và người nhận tài liệu: Tác giả có thể là cá nhân, cơ quan hay tổ chức. Đối với tác giả là cá nhân, trong tài liệu công bố cần chỉ rõ chức vụ người đó. Còn đối với tác giả là cơ quan, tổ chức cần phải ghi rõ ràng, đầy đủ.

Tuy nhiên, trong thực tế có rất nhiều tài liệu không có tác giả hoặc tác giả là bí danh hoặc tác giả giả mạo… Gặp những trường hợp này, cần phải xác minh làm rõ. Việc xác minh có thể dựa vào nội dung của các văn bản công bố hoặc có thể đối chiếu so sánh với những tài liệu đồng thời.

- Nội dung của tài liệu: Đây là một thành phần quan trọng, đòi hỏi phải được thể hiện đúng, chính xác, nêu bật được ý nghĩa cơ bản của tài liệu. Nội dung phải được thể hiện ngắn gọn, rõ ràng.

2. Biên soạn, chỉ dẫn tài liệu công bố:

Chỉ dẫn tài liệu công bố là một bộ phận cấu thành của các tài liệu công bố. Mục đích là làm cho người đọc, người sử dụng tài liệu đó tin vào tài liệu mà chúng được công bố, đồng thời giúp cho người đọc có thể kiểm tra những tài liệu công bố đó khi cần thiết. Chỉ dẫn tài liệu công bố bao gồm:

- Nơi bảo quản (Trung tâm, phòng, kho lưu trữ…).

- Số hiệu lưu trữ (phải cụ thể tên phông hoặc số phông, số mục lục, số ĐVBQ).

- Tờ số bao nhiêu.

- Mức độ chính xác của tài liệu công bố (bản chính hay bản sao…).

- Đặc điểm bên ngoài của tài liệu (tài liệu viết tay nay đánh máy, in ấn…).

Vị trí của chỉ dẫn tài liệu cong bố đặt ở sau bản chính và chữ ký để biết được sự thống nhất của tài liệu công bố.

Chú ý: Đối với những tài liệu để sưu tầm công bố đều từ một lưu trữ nhất định thì người ta có thể lược bỏ bớt những yếu tố có tính chất trùng lặp.

-> Mục đích cao nhất của chỉ dẫn là tạo niềm tin cho người sử dụng tài liệu công bố đó.

II. Hệ thống hoá tài liệu trong xuất bản phẩm:

1. Tầm quan trọng cua hệ thống hoá:

- Hệ thống hoá tài liệu trong xuất bản phẩm văn kiện không phải là một hình thức tác nghiệp đơn thuần, mà nó chính là hệ thống hoá nội dung của các tài liệu trong xuất bản phẩm để giúp cho người đọc, người sử dụng tiện lội cho việc tìm kiếm các thông tin chứa đựng trong các tài liệu được dễ dàng.

- Hệ thống hoá tài liệu trong xuất bản phẩm nó còn thể hiện tính lô-gich, tính hệ thống của các tài liệu trong mối quan hệ mật thiết với nhau.

-> Hệ thống hoá mang tính lô-gich trong mối quan hệ tổng thể để dễ dàng cho người sử dụng, đồng thời tạo nhanh chóng, hiệu quả cho việc tra tìm.

2. Các đặc trưng hệ thống hoá tài liệu trong xuất bản phẩm:

Thông thường, một xuất bản phẩm văn kiện có thể vận dụng một số các đặc trưng như Thời gian, Vấn đề, Địa dư, Tên gọi, Cơ quan giao dịch… để hệ thống hoá các tài liệu công bố trong xuất bản phẩm đó. Việc lựa chọn các đặc trưng này để hệ thống hoá tài liệu trong xuất bản phẩm lệ thuộc vào thành phần các tài liệu được công bố nói chung và nhu cầu sử dụng tài liệu của người đọc. Có thể khái quát trên mấy đặc trưng sau:

- Dựa theo đặc trưng Thời gian, thường áp dụng đối với các xuất bản phẩm công bố những tài liệu về một cá nhân nào đó hoặc cơ quan hình thành ra các tài liệu đó. Cần chú ý đối với tài liệu (nhất là tài liệu hành chính) có hai loại thời gian là thời gian văn bản và thời gian hiệu lực của văn bản.

Theo đặc trưng này, rất tiện lợi và dễ dàng trong việc hệ thống hoá tài liệu để công bố, nhưng việc thể hiện cho người đọc theo vấn đề thì rất khó khăn.

- Đặc trưng vấn đề: Để khắc phục hạn chế nói trên, người ta vận dụng đặc trưng vấn đề để hệ thống hoá các tài liệu công bố. Trong trường hợp này, việc hệ thống hoá các tài liệu theo vấn đề là chủ yếu.

- Đặc trưng địa dư: Trong nhiều trường hợp, tài liệu được công bố liên quan đến nhiều địa điểm khác nhau thì có thể hệ thống hoá theo địa dư đã hình thành tài liệu và xếp theo trình tự vần chữ cái a, b, c (VD: Phong trào công nhân trước năm 1945 ở Nam Định, Hải Phòng, Quảng Ninh, Nghệ An, Xưởng Ba Son, Sài Gòn… thì các địa điểm trên được xếp theo vần chữ cái a, b, c). Ngoài ra, người ta cũng có thể xếp tài liệu theo tầm quan trọng của mỗi địa dư (VD: Nam Định, Ba Son, Sài Gòn…).

- Đặc trưng tên gọi: Đặc trưng này cũng được hệ thống hoá, nhưng với điều kiện những tài liệu có tên gọi được công bố phải có số lượng lớn. (VD: Tập QĐ của UBND Tp Hà Nội năm 2007, Tập Nhật ký trong tù của Chủ tịch Hồ Chí Minh…).

- Đặc trưng Cơ quan giao dịch: Đặc trưng này thường được áp dụng để hệ thống hoá tài liệu trong xuất bản phẩm khi có 2 hoặc nhiều cơ quan; những cá nhân trao đổi tài liệu, thư từ với nhau (VD: Thư trao đổi giữa Mác và Ăng-ghen, Thư vào Nam…)

=> Sau khi những tài liệu đã được hệ thống hoá theo những đặc trưng nào đó thì mỗi tài liệu được đánh một số ả rập nhất định để cố định vị trí các tài liệu trong xuất bản phẩm. Trong thực tế, người ta thường kết hợp nhiều đặc trưng (như thời gian với vấn đề, thời gian với địa dư…) để hệ thống hoá các tài liệu công bố trong xuất bản phẩm.

 

Chương III: Công cụ tra cứu khoa học của xuất bản phẩm văn kiện

I. Tầm quan trọng và thành phần của công cụ tra cứu xuất bản phẩm:

1. Tầm quan trọng:

- CCTCKH của xuất bản phẩm là công cụ chỉ dẫn giúp người đọc, người sử dụng có thể tiếp cận một cách dễ dàng, nhanh chóng những tài liệu chứa đựng những thông tin cần thiết phục vụ cho yêu cầu sử dụng của mình.

- CCTCKH không phải đối với tất cả các xuất bản phẩm đều giống hau, mà tuỳ từng kiểu, từng loại hình, từng hình thức của xuất bản phẩm khác nhau mà biên soạn chúng một cách thích hợp (VD: một xuất bản phẩm gồm nhiều sự kiện, nhân vật, liên quan đến nhiều thời thời kỳ lịch sử khác nhau… thì dùng công cụ niên biểu các sự kiện).

- CCTCKH của xuất bản phẩm là công cụ chỉ dẫn, nếu được biện soạn tốt nó có thể góp phần làm tăng thêm giá trị sử dụng của những tài liệu được công bố trong xuất bản phẩm.

2. Thành phần của CCTCKH:

Thông thường, một xuất bản phẩm văn kiện gồm một số loại công cụ tra cứu sau:

- Lời tựa (lời nói đầu hay mở đầu)

- Các loại chú thích (chú thích nội dung, chú thích văn bản…)

- Các loại bản chỉ dẫn (tên người, địa dư, vấn đề…)

- Bản kê các tài liệu không công bố

- Bảng chữ viết tắt

- Bảng kê các thuật ngữ

- Mục lục xuất bản…

Việc biên soạn CCTCKH đòi hỏi phải đảm bảo tính chính xác cao và tuỳ theo yêu cầu nội dung của các xuất bản phẩm khác nhau mà biên soạn những công cụ thích hợp.

II. Biên soạn các loại CCTCKH:

1. Lời tựa (lời nói đầu, mở đầu):

Lời tựa là một loại công cụ khá phổ biến của tất cả các xuất bản phẩm văn kiện. Mục đích biên soạn Lời tựa nhằm đánh giá lại toàn bộ tài liệu được công bố, định hướng cho người đọc, người sử dụng hiểu đúng bản văn của tài liệu được công bố, chỉ ra những đặc điểm và phương pháp chuẩn bị công bố những tài liệu đó. Lời tựa thường có 2 phần:

- Phần lịch sử: Nêu rõ tính cấp thiết của đề tài công bố, chỉ rõ thời gian, không gian những tài liệu được sưu tầm, công bố, đồng thời khái quát những giá trị chung của tài liệu được công bố.

- Phần biên tập: Giới thiệu thành phần tài liệu được công bố, kết cấu các chương, mục của xuất bản phẩm đó.

-> Lời tựa của một xuất bản phẩm là một loại công cụ tra tìm phổ biến của bất kỳ một xuất bản phẩm nào. Mục đích chủ yếu của nó là định hướng cho người đọc hiểu đúng bản chất của những tài liệu được công bố và giới thiệu tổng quan những tài liệu được công bố trong xuất bản phẩm cũng như kết cầu các chương, mục, tiểu mục của xuất bản phầm.

2. Chú thích:

- Chú thích trước hết nhằm giải thích rõ các tài liệu văn kiện được sưu tầm, lựa chọn để công bố trong xuất bản phẩm, đặc biệt đối với những tài liệu văn kiện được công bố có nhiều bản khác nhau (dị bản) thì chú thích phải làm rõ đâu là bản gốc, bản chính. Có 2 loại chú thích:

+ Chú thích nội dung của tài liệu: Nhằm mục đích giải thích rõ cho người đọc hiểu chính xác và đánh giá đúng nội dung của mỗi tài liệu được công bố (VD: Khi công bố Di chúc của Bác, người ta phải chú thích rõ tài liệu này công bố theo bản gốc của Hồ Chủ tịch, hiện nay được lưu giữ ở đâu…  để giúp cho người đọc tin tưởng).

+ Chú thích văn bản: Chú thích này được biên soạn nhằm giải thích rõ những vấn đề liên quan tới sự hình thành ra cá tài liệu đó; chỉ rõ việc sưu tầm, tìm kiếm những tài liệu đó ở đâu, phương pháp truyền đạt những tài liệu đó như thế nào… (VD: Tài liệu trước cách mạng tháng 8 có những từ ngữ dùng khác ngày nay như “cách mạng tư sản dân quyền” mà ngày nay ta thường dùng cụm từ tương đương là “cách mạng dân tộc, dân chủ”. Do đó, khi sử dụng để công bố, người làm công tác công bố phải chú thích rõ điểm này).

- Vị trí của chú thích: Thường thì được đặt ở cuối trang. Nhưng đối với những xuất bản phẩm có nhiều chú thích thì có thể đặt chú thích đó ở sau mỗi văn kiện được công bố (ở trang cuối cùng).

- Ký hiệu của chú thích: Thường chú thích được ký hiệu bằng dấu hoa thị hay dấu cộng; thông thường người ta dùng chữ số ả rập.

3. Niên biểu các sự kiện:

- Trong một xuất bản phẩm có nhiều sự kiện được nhắc đến trong các văn kiện đó thì cần phải biên soạn niên biểu các sự kiện đó nhằm mục đích giúp người đọc hiểu một cách liên tục, hệ thống các sự kiện được nhắc đến trong tài liệu được công bố.

- Niên biểu các sự kiện là bản kê chính xác tất cả các sự kiện được nhắc đến trong tất cả các tài liệu công bố theo trình tự thời gian.

- Kết cáu của niên biểu các sự kiện bao gồm 3 bộ phận cấu thành sau đây:

+ Thời gian xảy ra các sự kiện: Đòi hỏi phải rất chính xác, chú ý trước đây người ta thường dùng thời gian là âm lịch, khi gặp trường hợp này người công bố phải quy đổi sang dương lịch tương ứng.

+ Nội dung tóm tắt của sự kiện: Các sự kiện được tóm tắt ngắn gọn.

+ Trang số của văn kiện được in trong xuất bản phẩm công bố.

VD:

Thời gian Nội dung sự kiện Trang số
16.8.1945 ĐH quốc dân Tân trào… 45
6.1.1946 Ngày tổng tuyển cử bầu quốc hội đầu tiên của nước VNDCCH 70

 

- Khi biên soạn niên biểu các sự kiện, cần phải nghiên cứu kỹ những tài liệu công bố và những tài liệu khác có liên quan để xác minh rõ thời gian xảy ra các sự kiện được đưa vào niên biểu.

4. Các bản chỉ dẫn:

- Các bản chỉ dẫn được biên soạn tuỳ vào mục đích, ý nghĩa cũng như nhiệm vụ của từng xuất bản phẩm khác nhau mà quyết định biên soạn các loại bản chỉ dẫn khác nhau.

- Việc biên soạn các bản chỉ dẫn này nhằm mục đích giúp cho người đọc có điều kiện đi sâu tìm hiểu nội dung của những tài liệu công bố một cách dễ dàng.

- Bản chỉ dẫn có thể được biên soạn cho những đối tượng sau đây:

+ Bản chỉ dẫn tên riêng

+ Bản chỉ dẫn tên địa dư

+ Bản chỉ dẫn sự vật

+ Bản chỉ dẫn thời gian…

- Để biên soạn bản chỉ dẫn, cần phải xác định rõ các yếu tô cần thiết như:

+ Đối tượng cần chỉ dẫn

+ Giải thích được đối tượng chỉ dẫn

+ Chỉ rõ trang số của xuất bản phẩm có nhắc đến đối tượng phải chỉ dẫn…

- Phương pháp biên soạn: Để biên soạn được các chỉ dẫn chính xác, trước hết cần xác định rõ và chính xác các đối tượng được chỉ dẫn (VD: trong công bố tài liệu liên quan đến Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong các tài liệu này nhắc nhiều đến các nhân vật lịch sử như Duy Tân, Tống Duy Tân, Vĩnh Thuỵ… thì đây chính là đối tượng cần chỉ dẫn).

Sau khi xác định được đối tượng chỉ dẫn thì cần nghiên cứu tìm hiểu các tài liệu có liên quan đến các đối tượng đó để giải thích một cách chính xác các đối tượng này, đó là yêu cầu mang tính bắt buộc mà các bản chỉ dẫn phải đạt được.

-> Các bản chỉ dẫn càng được biên soạn tỉ mỉ, chi tiết thì càng thuận lợi cho người nghiên cứu, sử dụng.

5. Bảng kê chữ viết tắt: Là bảng thống kê tất cả những chữ viết tắt trong tài liệu công bố và cả những chữ viết tắt do người làm công tác công bố sử dụng và chúng được sắp xếp theo trình tự a, b, c. Kết cấu của bảng chữ viết tắt gồm phần kê chữ viết tắt và phần giải thích chữ viết tắt đó:

VD:      ANCSĐ      An Nam Cộng sản đảng

            HNHN         Hội nghị hợp nhất…

-> Nếu bảng chữ viết tắt được biên soạn một cách đầy đủ, tỉ mỉ thì sẽ giải phóng cho người đọc khỏi tốn nhiều thời gian tìm hiểu những chữ viết tắt đó.

6. Bản kê tài liệu không công bố:

- Khi sưu tầm, lựa chọn tài liệu để công bố trong một xuất bản phẩm nào đó, thường người ta phải sưu tàm một số lượng tài liệu lớn. Trong số những tài liệu đó, người làm công tác công bố lựa chọn ra những tài liệu có giá trị và cần thiết nhất để công bố.

- Việc lập bản kê tài liệu không công bố giúp cho những người quan tâm đến đề tài có điều kiện nghiên cứu, tìm hiểu rộng hơn những tài liệu được công bố.

- Kết cấu của bản kê tài liệu không công bố gồm các thành phần:

+ Số thứ tự: Đánh liên tục từ 1 đến số cuối cùng

+ Tiêu đề (tên) của tài liệu văn kiện: Dựa vào chính tên tài liệu sưu tầm được (VD: nghị quyết về…, quyết định về…). Trường hợp văn bản không có tên gọi thì người làm công tác công bố phải tóm tắt và đặt tên cho nó.

+ Chỉ dẫn nơi để (địa chỉ) tài liệu: Địa chỉ tài liệu cần chỉ rõ tên kho (hoặc trung tâm) lưu trữ, tên phông (hoặc số phông), mục lục hồ sơ, số hồ sơ/ĐVBQ, tờ số.

7. Mục lục của xuất bản phẩm:

- Bất kỳ một xuất bản phẩm nào (dù khối lượng tài liệu nhiều hay ít) bao giờ cũng phải kèm theo một bản Mục lục của xuất bản phẩm đó. Bản mục lục này trước hết giúp người đọc, người nghiên cứu có cái nhìn tổng quát về toàn bộ những tài liệu được công bố trong xuất bản phẩm.

- Mục lục giúp cho người đọc có thể tìm thấy những tài liệu liên quan trực tiếp đến vấn đề mà mình cần tìm kiếm.

- Mục lục của xuất bản phẩm liệt kê trình tự các chương, mục, tiểu mục của xuất bản phẩm đó cũng như các công cụ tra cứu, các phụ trương, phụ lục kèm theo (nếu có), đồng thời kèm theo trang số tương ứng với các chương, mục, tiểu mục đó.

- Mục lục của xuất bản phẩm có thể đặt ở đầu hoặc cuối của xuất bản phẩm đó.

 

ÔN TẬP THEO NHỮNG VẤN ĐỀ SAU

 

1. Tại sao trong công bố tài liệu văn kiện, người ta chia ra các kiểu, các loại, các hình thức khác nhau?

2. Trong công bố tài liệu văn kiện, việc truyền đạt bản văn của văn kiện là rất quan trọng? Trình bày 1 hoặc 2 phương pháp?

3. Công cụ tra cứu của xuất bản phẩm? Các công cụ đó gồm những loại gì?

 SƯU TẦM TRÂN VŨ THÀNH

About these ads

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s